PHÁT HUY SỨC MẠNH TỪ CON NGƯỜI VÀ THIÊN NHIÊN VIỆT NAM

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tìm kiếm nâng cao
 
 
» Dược liệu
Về “Sâm Ngọc Linh” ở Lâm Đồng

Gối hạc trắng

Tạp chí CTQ số 26 (trang 16) có đăng bài “Thật – giả, Sâm Ngọc Linh” của tác giả Phan Công Tuấn đề cập đến thông tin về “di thực trồng thành công Sâm Ngọc Linh ở nhà vườn Đà Lạt và một số địa phương khác của Lâm Đồng”. Qua điều tra của CTQ thì đây không đúng là “Sâm Ngọc Linh”, một vấn đề không mới mà CTQ đã nhiều lần đề cập và thường xuyên cảnh giác với bạn đọc qua bài “Nhầm lẫn cây Thương lục với Sâm Ngọc Linh- CTQ21, Bài “Cách phân biệt Sâm Ngọc Linh giả” – CTQ số 26, …

            Một vài ngày trước đây, TS Võ Văn Chi đã gửi thư cho Toà soạn CTQ với nội dung sau: “Gần đây, giữa tháng 10, báo chí đưa tin về việc trồng và sử dụng Sâm Ngọc linh ở Lâm Đồng. Tôi đã nhờ phóng viên Báo Tuổi trẻ lấy mẫu cây gửi về để xác định. Người ta đã dùng rễ Gối hạc Leea rubra Blume ex Spreng. Dùng khô và chế các thành phẩm để bán chứ không phảI Sâm Ngọc Linh thật. Để giúp bạn đọc tham khảo, tôi giới thiệu các loài cây Gối hạc đã được sử dụng làm thuốc.”
            Các loài Gối hạc hay Củ rối thuộc chi Leea royen ex L, chỉ duy nhất trong họ Gối hạc - Leeaceea Dumort. Chi này gồm 34 loài của các vùng nhiệt đới Cựu lục địa (Châu Phi và Mađagaxca 2, vùng ấn Độ - Mã Lai 32). ở nước ta, nhà thực vật học Phạm Hoàng Hộ đã thống kê 12 loài, nhưng nhà thực vật học Nguyễn Tiến Bân đã gộp lại chỉ còn 10 loài. Có đến 8 loài đã biết được sử dụng để trị bệnh.
           1. Leea aequata L. - L. hipsidan gagnep.  - Gối hạc bằng, Củ rối bằng,  Củ rối phún.
             Phân bố: Từ Khánh Hoà, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm đồng, Bình Phước tới các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long. Cũng phân bố ở ấn Độ,
            Mianma, Lào, Thái Lan và Malaixia.
            Bộ phận dùng: Củ và thân lá, rễ.
            Tác dụng: Thu liễm, làm nhầy.
            Công dụng: Rễ dùng làm thuốc trị bệnh đường hô hấp, lá dùng đắp vết thương.
 
            2. Leea crispa L. - Gối hạc nhăn, Củ rối nhăn.
             Sinh thái: Cây mọc rải rác trong rừng thứ sinh; hoa tháng 7 - 9.
             Phân bố: Chỉ mới biết cây mọc ở Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Cũng phân bố ở ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia và Nam Phi.
             Bộ phận dùng: Rễ và lá.
             Công dụng: Lá dùng giã đắp vết thương.
 
            3. Leea curtusi King.- L. stippulosa Gagnep. - Củ rối lá bẹ
             Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thứ sinh.
             Phân bố: Chỉ mới  gặp  ở vùng Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà. Cũng phân bố ở Malaixia.
             Bộ phận dùng: Lá.
             Công dụng: ở Malaixia (vùng Perak), lá cây giã ra với thuốc lá( Chnese tobaco) dùng đắp vào đầu bảo vệ tóc.
 
            4. Leea guinneensis G. don- Leea dentât Craib, l. schomburgkii Craib, L. robusta, auct. Non roxb. - Gối hạc trắng, củ rối mạnh.
 
             Sinh thái: Cây mọc rải rác trong rừng thứ sinh và ven rừng; ra hoa tháng 5 - 6.
             Phân bố: Từ Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Ninh Bình, Nghệ an, Khánh Hoà, Kom Tum đến Lâm Đồng, Ninh Thuận;
            cũng phân bố ở Trung Quốc, Thái Lan, Châu Phi.
             Bộ phận dùng: Toàn cây.
             Tính vị: Vị nhạt, tính bình.
             Công dụng: Dùng làm thuốc thanh nhiệt giải độc.
            5. Leea indica (burm. F) Merr. – L. sambucina(L) Willd, L . longifoliosa Merr.- Gối hạc đen, Củ rối ấn, Cây gậy bụt.
             Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thứ sinh, nơi sáng, có khi mọc dọc đường đi vùng núi đá; ra hoa tháng 8 -10.
             Phân bố: Khá rộng, từ Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hoà Bình, Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Kom Tum, Lâm
            Đồng, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây ninh, Kiên Giang; cũng phân bố ở ấn
            Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđôaêxia đến Bắc Ôxtrâylia.
             Bộ phận dùng: Toàn cây, rễ, lá, quả.
             Tính vị: Vị nhạt, tính bình; rễ có vị đắng, tính ẩm không độc.
             Công dụng: Trị thấp khớp tê bại, bán thân bất toại; trị ỉa chảy, kiết lỵ,…
 
            6. Leea manillensis Walp. - L. aurantiaca zoll. Et Mor, L. acumimata Wall.ex C.B. clarke- Gối hạc nhọn, Trúc vòng, Củ rối có mũi.
             Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thưa  và cả ở chỗ ẩm ven rừng, ở độ cao 1300 - 1700 m. Ra hoa tháng 7 - 9.
            Phân bố: Từ Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Ninh Bình, Nghệ An vào Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh thuận, Lâm Đồng.
            Cũng phân bố ở ấn Độ, Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin.
            Bộ phận dùng: Rễ.
            Công dụng: Cây được dùng như Gối hạc chữa phong thấp, đau sưng đầu gối.
 
            7. Leea rubra Blume ex spreng.  - L. linearifolia c.B. cocarke- Gối hạc, Đơn gối hạc, Gối hạc tía, Củ rối, cây Mũn, Phí tử.
             Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng, trên các đồi hoang ven rừng; ra hoa tháng 3 - 7.
             Phân bố: Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Hà Tây, Thái nguyên…vào tới Kom Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Kiên Giang, An
            Giang; cũng phân bố ở ấn Độ, Mianama, Campuchia, malaixia, Inđônêxia, Ôtraaylia.
             Bộ phận dùng: Rễ, lá, quả.
             Tính vị; Vị đắng, ngọt tính mát.
             Tác dụng : Thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng, thông huyết.
             Công dụng: Thường sử dụng chữa sưng tấy, phong thấp sưng đầu gối và chữa đau bụng, rong kinh; hạt chữa giun đũa, giun kim và sán
            xơ mít…
 
            8. Leea thorelli Gagnev. - Chạ bục,  Củ rối Thorel.
             Sinh thái; mọc rải rác trong rừng thư sinh và ven rừng. Ra hoa tháng 7 - 8.
             Phân bố: chỉ gặp ở các tỉnh phía Nam: Lâm Đồng, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Dương và Tây Ninh.
             Bộ phận dùng: Rễ củ.
             Công dụng: Dân gian dùng rễ củ làm thuốc trị ho gà, vàng da, lá lách hư.
 
TS. Võ Văn Chi

Gửi cho bạn   In 
Quay lại
Các tin đã đưa khác
 
  • Cỏ roi ngựa - Thuốc thông huyết, sát trùng mọc khắp nơi ( tiếp theo) (04/08/2008)
  •  
  • Lá lốt – vị thuốc của dân gian (03/08/2008)
  •  
  • Côn bố (01/08/2008)
  •  
  • Những bài thuốc quý từ “Cây ổi sau nhà” (29/07/2008)
  •  
  • Ngao mật và vị thuốc xa ngao (25/07/2008)
  •  
  • Mai ba ba và vị thuốc chữa xơ gan (23/07/2008)
  •  
  • Tác dụng tránh thai của Đu đủ xanh (18/07/2008)
  •  
  • Chữa bệnh từ sầu riêng (16/07/2008)
  •  
  • Bào ngư - món ăn và vị thuốc quý (12/07/2008)
  •  
  • Khoai lang - một vị thuốc quý (11/07/2008)
  • TIN MỚI

    Còn đó... một cây nằm trong sách đỏ Việt Nam tại Hà Nội

    Thịt gà mái già bổ huyết trừ phong

    Cảm ơn CTQ, Qúy Thông tin.

    Những đại diện Dòng sản phẩm HERBA-V được VIMAMES đề xuất tham gia Sản phẩm Quốc gia

    Trà dược cho người ung thư đã phãu thuật hoặc hóa xạ trị

    Cần lắm những tấm lòng

    Tiếp tục tham gia đóng góp giúp đồng bào khắc phục hậu quả của bão lụt

    Đăng ký thành viên

    Tên đăng nhập

    Mật khẩu

      » Đăng ký thành viên
      » Quên mật khẩu

    Tạp chí số mới

    ĐÓN ĐỌC CTQ 162. (Phát hành ngày 27/8/2010) với những bài sau *  Khai trương Tuệ Tĩnh Đường Hòa Nam, thêm một địa chỉ khám chữa bệnh từ thiện; * Một bông hồng cho Mẹ (Thư CTQ chúc mừng gia đình GS Ngô Bảo Châu); *Điều trị mất ngủ do thấp đờm khuấy động Vị; *Thể dục "xanh" giúp cải thiện tâm lý; *Vông nem; *Cây Cốt khí củ; *Để dùng Ké đầu ngựa chữa bệnh có hiệu quả cao; *Sự thẩm thấu qua ruột của các alcaloit Mã tiền; * Huyết giác bổ huyết, thông mạch; * Cỏ bợ, vừa là thước ăn vừa là thuốc; *Mào gà đỏ-cây cảnh, cây thuốc; "Cà chua - Dinh dưỡng & Chữa bệnh; * Cô hàng Cà chua; *Gạo lứt và giải pháp; *Hơn 60 năm nhớ về Ngày Độc lập; * Ngứa đầu, bệnh thường gặp mùa nóng; * Lợi ích của Keo ong;*Ớt cay có thể làm giảm huyết áp; *Vitamin C những điều cần thiết; *Yoga chữa đau lưng; *Sơ cấp cứu trong chấn thương "cây người"; Câu chuyện một tiềm năng dã được phát triển từ "giọt nước tràn ly"; "Chấn thương tụ máu, đọc báo chữa lành"; *Hai chữ Nước Nhà";*Thắp tình 1000 năm Thăng Long; *Một chút thu Hà Nội...

    Đặt mua báo, xin liên hệ với chị Phương Anh. ĐT 01279594876 - 04.39412397 hoặc các Điểm Bưu điện trong cả nước.

    Trưng cầu ý kiến

    Theo bạn thuốc bổ Đông y nên dùng vào mùa nào là thích hợp nhất?
    Mùa xuân
    Mùa hè
    Mùa thu
    Mùa đông
    Tổng số phiếu 1918

    Về đầu trang 

    New Page 1

    Copyright © 2005 - 2008

    Cơ quan chủ quản : Hội Dược liệu Việt Nam. Tổng biên tập: Tạ Ngọc Dũng.
    Giấy phép Bộ Văn hóa- Thông tin số 05/GP-BC ngày 10/01/2006.
    Địa chỉ: 26 Lương Ngọc Quyến - Hà Nội. Ban biên tập: 12 - Thiền Quang - Hà Nội. Tel: (04)62913274 - Fax: (04) 9363274.

    Email: nctq02@yahoo.com / hopthu@caythuocquy.info.vn

    Thiết kế & xây dựng bởi VNNetsoft