Từ thuở khai thiên lập địa tới tận bây giờ và chắc chắn còn mãi nữa, con người khỏi bệnh, khoẻ, đẹp, thọ nhờ ở thuốc quanh ta-cây nhà lá vườn-nay là Y học dân tộc, Bác Hồ gọi là “thuốc ta” cần Đông Tây y kết hợp. Cũng vì lẽ đó CTQ “đồng hành vì chất lượng cuộc sống” rất được đông đảo bạn đọc gần xa trên nhiều nước tìm đọc, đến Việt Nam học, chữa bệnh, nghiên cứu.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã sớm nhận ra thực trạng cư dân hành tinh có tới 80-90% không đến được bệnh viện, nên cũng ngần ấy tỷ lệ người tự xoay xở hoặc giúp nhau tự lo mỗi khi đau ốm. Từ đầu những năm 1960, WHO đã xúc tiến thành lập Trường đại học quốc tế mở rộng về các nền Y học bổ sung. (The Open Internation University of Complementary Medicines) và được công nhận là “Trường đại học vì hoà bình” trong Nghị quyết số 35/55-5/12/1980 (Thông tin UNESCO 8/1987) của Đại hội đồng Liên hợp quốc.
Ai cấm được ai tự làm “thầy thuốc” bằng cây lá quanh nhà hoặc bằng các phương pháp không dùng thuốc (Drug free therapy)?. Đó là Y học cổ truyền-kinh nghiệm dân gian mà chúng tôi nghĩ và thực tế xác nhận có thể giải thích kết quả qua cơ chế thích nghi-niềm tin-khát vọng để huy động khả năng tiềm ẩn trong con người, theo lời dạy của ông tổ Hippocrates danh y: Bản năng của người bệnh cũng chính là bác sỹ của người bệnh.
Thuốc vờ Placebo, phẫu thuật giả còn đạt kết quả cao thì sao CLV vừa kinh nghiệm, vừa đã qua nghiên cứu thừa nhận có các nhóm chất hoá học và tác dụng sinh học như các dược liệu khác lại không có chức năng chữa bệnh? Đại bổ như Nhân sâm, dùng quá liều cũng gây độc nặng, cả chết người, như GS Hoàng Bảo Châu đã dẫn chứng (SK&ĐS số 164-12/2000)
Không hề có thuốc thánh, thuốc tiên…chữa trăm bệnh, cho mọi người, thậm chí cho một người-tuỳ thuộc bệnh phát triển ra sao.
Tác dụng làm thuốc của CLV đã nhiều kinh nghiệm dân gian nhưng thiếu số liệu khoa học chặt chẽ. Còn, nghiên cứu sơ khởi chưa phải trên người thì giá trị khoa học là không đáng kể đã đành, chúng tôi thêm kiến nghị khi Nhà nước chủ trương triển khai đề tài toàn diện, dài hơi:
1. Song song thực nghiệm ở cả hai kênh: thực nghiệm khoa học và dân gian chữa bệnh.
2. Kết hợp CLV và các dạng bào chế theo y lý Đông phương về biện chứng luận trị với các nhóm chất dược liệu khác trong vai trò “quân-thần-tá-sứ” cần các phía khách quan tham gia.
3. Trao đổi thông tin quốc tế, nói riêng, với các Khoa học gia Nga đã đưa con số CLV chữa tới 38 chứng bệnh. Dĩ nhiên ta vẫn là ta, “Thuốc Nam chữa bệnh người Việt” như lời dạy của Đại danh y nước ta Tuệ Tĩnh. Trong chung có riêng: Chất lượng CLV ở Nga khác Việt Nam, thậm chí ở xứ Thanh không giống như ở Hà Nội, trồng chậu cảnh khác ngoài đồng ruộng v..v. Khoa học cần làm rõ.
Cũng như bệnh, chữa bệnh nói chung, việc của người chữa, còn sức khoẻ tự mỗi người phải lo.
Xin cảm ơn.
Trịnh Tố Long