PHÁT HUY SỨC MẠNH TỪ CON NGƯỜI VÀ THIÊN NHIÊN VIỆT NAM

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tìm kiếm nâng cao
 
 
» Dược liệu
Cây Kim ngân trong các bài thuốc chữa ung thư của Đông y và Tây y

Kim ngân là một cây thuốc được dùng trong phòng chữa ung thư của Đông y. Nó đang ngày càng được phát hiện thêm nhiều tác dụng quý, nên ngày càng được dùng nhiều hơn để đương nhiên trở thành cây thuốc quý của cả Đông, Tây.

            Cây có tên là Kim ngân vì hoa có hai màu: Màu trắng vào buổi sáng và chuyển sang vàng buổi chiều (không phải cây Kim ngân có hoa hai màu như có sách đã ghi). Tên khoa học Lonicera japonica Thunb, họ Cơm cháy Caprifoliaceae, ngoài ra còn có nhiều loài khác cũng được sử dụng như Kim ngân dại (Lonicera dasystyla Rehd), Kim ngân lẫn (Lonicera confusa DC)… phải chú ý phân biệt khi cần chuẩn hoá. Cây Kim ngân mọc hoang trên diện hẹp (chỉ có ở Cao Bằng, Lạng Sơn); Kim ngân dại phân bố rộng hơn, ở nhiều tỉnh miền Bắc; Kim ngân lẫn có ở Thủ pháp Hà Tây. Kim ngân được trồng làm cảnh vì hoa đẹp, hương thơm. Kim ngân được trồng với số lượng lớn tại Công ty Đông dược Bảo Long (Hà Tây) và Vimedimex II (Công ty XNK y tế II) (LTS) với chủ đích tránh Kim ngân giả, đồng thời tạo điều kiện cho phòng chẩn trị phát huy ưu điểm của phương pháp chữa bệnh bằng thuốc tươi theo trào lưu mới đang được đề cao trong y tế cộng đồng của thế giới.
Theo Đông y: Kim ngân hoa tính mát lạnh, vị ngọt, hơi đắng, vào 4 kinh phế, tâm, tỳ, vị; không độc, có công năng thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, giải biểu, lợi tiểu; dùng chữa dương bệnh, trường hợp không phải thực nhiệt, kiểu hư hàn (ỉa chảy), ra nhiều mồ hôi nên tránh dùng. Nước sắc Kim ngân có tác dụng mạnh hơn các dạng bào chế khác; hoa tốt hơn cành lá (nếu dùng cành lá phải tăng liều lượng gấp 2 - 3 lần).
Theo Tây y, thành phần hoá học có nhiều Flavonoit. Hoa chứa Colymozid (Lonicerin), một số carotenoit (Scaroten), Cryptoxantin, auroxantin; lá chứa Loganin, có tác dụng kháng khuẩn, tăng cường chuyển hoá chất béo (trên thỏ thí nghiệm).
Về độc tính: Theo tài liệu của Viện Dược liệu, chuột nhắt trắng uống nước sắc Kim ngân liên tục 7 ngày với liều gấp 15 lần liều điều trị trên người, chuột vẫn sống bình thường, giải phẫu phủ tạng không có thay đổi gì đặc biệt. Do có độc (khi dùng liều cao) nên chỉ dùng hoa Kim ngân dưới dạng thuốc hãm và sirô với liều thấp (hãm sắc 40g).
 
Chữa “ung thư theo Đông y”
            Mụn nhọt chia 2 loại: Mang tính dương gọi là “ung”; mang tính âm gọi là “thư”.
Kim ngân hoa chữa các chứng ung thư, chốc lở, mụn nhọt, giang mai. “Nó là một vị thuốc cần thiết cho các chứng ung nhọt…”. Trong Ngoại khoa, tinh yếu của Trần Tử Minh nói: “Rượu Kim ngân hoa chữa ung thư mới phát thật là thần diệu vô biên”. Nguyễn Văn Minh trong Dược tính chỉ nam viết: “Các bài chữa chứng ung nhọt có Kim ngân hoa, đều là thần diệu cả…”. Trong 10 điều tâm đắc khi dùng Đông dược, Tiêu Thụ Đức viết: “Huyết phận có nhiệt độc ung trễ sinh lở loét, sưng tấy mưng mủ, dùng Kim ngân hoa để thanh…”.
            Một số bài thuốc trong sách “Đông y kỳ diệu”
v Kim ngân hoa thảo tửu (Trích Y phương tập giải): Kim ngân hoa 50g, Cam thảo 10g, nấu với 2 chén nước còn 1/2 chén, hoà với 1/2 chén rượu, hâm nóng, chia 3 lần uống trong ngày.
Công dụng: Chữa ung nhọt, phế ung, trường ung.
v Nhẫn đông đằng tiên tửu (Cảnh nhạc toàn thư): Nhân Đông đằng (giây Kim ngân) 50g, Sinh cam thảo 10g, cho vào nồi đất nấu với 2 chén nước lấy 1 chén, cho vào 1 bát nước đun sôi vài lần, lọc bỏ bã, chia 3 phần uống trong ngày. Bên ngoài các chỗ đau, lấy 1 nắm lá Kim ngân hoa giã nhuyễn, nhào với 1 lít rượu, nấu thành cao và đắp.
Công dụng: Chữa ung nhọt mới phát, các khớp xương sưng, nóng, đỏ đau.
v Bổ Kim tửu (Nghiệm phương tân biên): Kim ngân hoa 15g, Bồ công anh 15g, rượu 2 chén, sắc còn 1 chén, chia 2 phần uống làm 2 lần (sáng và tối), sau bữa ăn; bã đắp lên vú đau.
Công dụng: Chữa viêm tuyến vú.
v Tứ diệu dũng an thang (Bào tướng Ngao - đời Thanh): Kim ngân hoa 90g, Huyền sâm 90g, Đương quy 60g để giải độc, hoạt huyết chỉ thống.
Công dụng: Chữa các chứng nhiệt độc kết tụ như: Chân tay đỏ tím, hơi nề, sợ nóng, đau đớn, rồi bị hoại tử, thối rữa, rụng đốt lan dần lên trên chân… Hiện nay dùng chữa viêm tắc động tĩnh mạch hoặc do các nguyên nhân khác gây nên triệu chứng trên. Bên ngoài dùng bột Cam thảo trộn Dầu vừng đắp chỗ đau, ngày thay 1 lần; kết hợp Tây y phẫu thuật.
v Ngũ thần thang (Trần Sỹ Dịch - đời Thanh): Kim ngân hoa 30g, Tử hoa địa đinh 12g, Phục linh 12g, Ngưu tất 10g, Xa tiền tử 10g, sắc uống.
Công dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, chữa cốt ung chi dưới. Ngày nay dùng chữa cốt tuỷ viêm, viêm đường tiết niệu và các bệnh thấp nhiệt khác.
 
Điều trị ung thư theo Tây y (cancer - k)
 K - tuyến vú: Kim ngân hoa 30g, Vương bất lưu hành 30g, Miêu nhãn thảo 30g; chế thành cao, thêm Tử kim đỉnh 12g, Băng phiến 6g, tán bột trộn đều. Ngày uống 2 - 3 lần; mỗi lần 1 - 3g.
 K - gan: Kim ngân hoa 30g, Ngô công 10g; sắc uống ngày 1 thang, kết hợp ăn Tây qua (dưa hấu).
 K - vòm họng: Kim ngân hoa 30g, Sinh thạch cao 20g, Sinh mẫu lệ 20g, Quy bản 20g, Đại thanh diệp 20g, Liên kiều 16g, Bạch thược 16g, Nữ trinh tử 16g, Thương nhĩ tử 16g, Mã bột 16g, Bạc hà 6g, Cốc tinh thảo 10g, Cát cánh 10g, Cam thảo 80g; sắc uống ngày 1 thang.
 K - cổ tử cung: Kim ngân hoa 20g, Đương quy 20g, Sinh lộc giác 16g, Đào nhân 12g, Bồ công anh 16g, Liên kiều 12g, Đan bì 16g, Huyền hồ 10g, Nhũ hương 10g, Xích thược 16g, Hồng hoa 10g; sắc uống ngày 1 thang.
 K - và u bướu giáp trạng: Kim ngân hoa 20g, Sinh miết giáp 20g, Sinh mẫu lệ 20g, Bồ công anh 20g, Hoa phấn 16g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, Bồ công anh 20g, Liên kiều 16g, Tam lăng 12g, Nga truật 12g, Hải tảo 12g, Côn bố 12g, Sinh đại hoàng 4g, Toàn yết 5g; sắc uống nóng, ngày 1 thang.
 K - trực tràng: Kim ngân hoa 16g, Bạch mao căn 16g, Quy bản 16g, Thổ phục linh 16g, Bồ công anh 16g, Tử hoa địa đinh 16g, Thăng ma 12g, Hoè hoa 16g, Hạn liên thảo 16g, Cát cánh 16g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, Sinh cam thảo 8g; sắc uống ngày 1 thang.
Lưu ý: Từ năm 1995, trên thị trường đã xuất hiện Kim ngân hoa giả làm từ Củ cải hoặc bằng phần xốp trắng trong ống Đu đủ. ở phần trên của túi đựng là Kim ngân hoa thật, còn ở dưới là Kim ngân giả được trộn với tỷ lệ khác nhau.
Trong Đông y có trường hợp cần phối ngũ Kim ngân hoa với Nhân sâm, nhưng nếu Kim ngân hoa là Củ cải thì Nhân sâm bị mất tác dụng (Đông y vẫn giải ngộ độc Nhân sâm bằng Củ cải).
 
Phó Đức Thuần

Gửi cho bạn   In 
Quay lại
Các tin đã đưa khác
 
  • Về “Sâm Ngọc Linh” ở Lâm Đồng (05/08/2008)
  •  
  • Cỏ roi ngựa - Thuốc thông huyết, sát trùng mọc khắp nơi ( tiếp theo) (04/08/2008)
  •  
  • Lá lốt – vị thuốc của dân gian (03/08/2008)
  •  
  • Côn bố (01/08/2008)
  •  
  • Những bài thuốc quý từ “Cây ổi sau nhà” (29/07/2008)
  •  
  • Ngao mật và vị thuốc xa ngao (25/07/2008)
  •  
  • Mai ba ba và vị thuốc chữa xơ gan (23/07/2008)
  •  
  • Tác dụng tránh thai của Đu đủ xanh (18/07/2008)
  •  
  • Chữa bệnh từ sầu riêng (16/07/2008)
  •  
  • Bào ngư - món ăn và vị thuốc quý (12/07/2008)
  • TIN MỚI

    Còn đó... một cây nằm trong sách đỏ Việt Nam tại Hà Nội

    Thịt gà mái già bổ huyết trừ phong

    Cảm ơn CTQ, Qúy Thông tin.

    Những đại diện Dòng sản phẩm HERBA-V được VIMAMES đề xuất tham gia Sản phẩm Quốc gia

    Trà dược cho người ung thư đã phãu thuật hoặc hóa xạ trị

    Cần lắm những tấm lòng

    Tiếp tục tham gia đóng góp giúp đồng bào khắc phục hậu quả của bão lụt

    Thông tin gửi các cơ quan báo chí: HỘI NGHỊ “NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DƯƠC LIỆU ”

    HỘI NGHỊ “NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DƯƠC LIỆU ”

    Đăng ký thành viên

    Tên đăng nhập

    Mật khẩu

      » Đăng ký thành viên
      » Quên mật khẩu

    Tạp chí số mới

    CTQ số 167 (Kỳ 1, 13 tháng 11-2010).*Vị thuốc Phòng kỷ-nạn nhân của việc sử dụng tùy tiện Dược liệu và Đông y (Kỳ 1), *Bài thơ tặng bạn, *Mạch môn, *Chữa huyết áp cao do đàm thấp thịnh, *Một số bài thuốc kinh nghiệm trị ho, *Bách bộ, chữa ho, trị giun, *Mây nổi vèo bay, *Thuốc quý từ cây Lau, cây Sậy (Kỳ 1), *Diêu bông dược liệu kim từ điển (tt), *Vitamin C giúp sản xuất đúng các tế bào gốc, *Tu hài, loại hải sản quý hiếm giầu dinh dưỡng nhưng cần ăn thật chín, *Rau quả giảm nguy cơ ung thư, *Flavonoit chè xanh và Sức khỏe con người, *Bệnh ung thư là do hành vi của con người tạo ra, *Khám phá mới về cơ chế suy giảm miễn dịch ở người bệnh đái tháo đường, *Hạt điều chữa bệnh tiểu đường, *Dự báo tỷ lệ mắc tiểu đường ở Mỹ tăng cao, *Đời cha ăn nhiều mỡ, đời con dễ bị tiểu đường, *Những trường hợp không được dùng Nhân sâm, *Tập luyện Khí công nâng cao Khí - Lực(Kỳ 1),Tư âm, một phép chữa bệnh diệu kỳ, *Tuệ Tính đường Pháp Lâm (Đà Nẵng) 20 năm khám chữa bệnh cho người nghèo, *Người thầy thuốc với nghề "cứu nhân độ thế", *Khắc ghi dấu ấn về những người thầy trường Y, *Những người đi trước*Diễn ca Lễ hội đậm nét nhân văn,*Chùa Pháp Vân với kiến trúc hoa văn tuyệt diệu thời Lý Trần..

    Đặt mua báo, xin liên hệ với chị Phương Anh. ĐT 01279594876 - 04.39412397 hoặc các Điểm Bưu điện trong cả nước.

     

     

     

     

    Trưng cầu ý kiến

    Theo bạn thuốc bổ Đông y nên dùng vào mùa nào là thích hợp nhất?
    Mùa xuân
    Mùa hè
    Mùa thu
    Mùa đông
    Tổng số phiếu 2619

    Về đầu trang 

    New Page 1

    Copyright © 2005 - 2008

    Cơ quan chủ quản : Hội Dược liệu Việt Nam. Tổng biên tập: Tạ Ngọc Dũng.
    Giấy phép Bộ Văn hóa- Thông tin số 05/GP-BC ngày 10/01/2006.
    Địa chỉ: 26 Lương Ngọc Quyến - Hà Nội. Ban biên tập: 12 - Thiền Quang - Hà Nội. Tel: (04)62913274 - Fax: (04) 9363274.

    Email: nctq02@yahoo.com / hopthu@caythuocquy.info.vn

    Thiết kế & xây dựng bởi VNNetsoft